Kinh Nghiệm Hướng dẫn Những quan điểm về giá trị của triết học Phật giáo Chi Tiết

Update: 2022-09-29 13:36:22,Bạn Cần kiến thức và kỹ năng về Những quan điểm về giá trị của triết học Phật giáo. Quý khách trọn vẹn có thể lại phản hồi ở phía dưới để Mình đc lý giải rõ ràng hơn.

542

Quan niệm về nhận thức trong triết học phật giáo Việt Nam

TS Triết học Nguyễn Đức Diện10:27 SA @ Thứ Sáu – 09 Tháng Tám, 2019

Quá trình hình thành ý niệm lý luận về nhận thức luận trong những học thuyết triết học thường trình làng trải qua quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Trong triết học Phật giáo, giữa bản thể và nhận thức có quan hệ không tách rời. Biểu hiện của quan hệ ấy ở đoạn tính “không” của bản thể, cũng như tính vô thường, nhân quả của toàn thế giới hiện tượng kỳ lạ chỉ được trao thức trải qua quan hệ với “tâm”. Quan hệ này cũng như quan hệ giữa bản thể và toàn thế giới hiện tượng kỳ lạ. Vì thế, việc tách rời bản thể luận và nhận thức luận chỉ có tính chất tương đối nhằm mục tiêu nghiên cứu và phân tích phương pháp nhận thức bản thể của Phật giáo.

Nhận thức Phật giáo thực ra là nhận ra bản thể, chân tâm của chính mình, tức giác ngộ. Để đạt được mục tiêu đấy, người học đạo phải tự mình chứng ngộ lấy chân lý trải qua con phố trực giác. Với mục tiêu giải thoát những đau khổ tinh thần nơi trần thế cho con người, Phật giáo còn đưa ra con phố Tam học. Kết quả của thực hành thực tế Tam học, người học đạo sẽ đã có được trí tuệ sáng suốt. Tuy nhiên, trí tuệ này sẽ không phải là những tri thức khoa học con người đạt được trải qua con phố biện chứng của quy trình nhận thức, mà là trí tuệ vô sư.

Theo Phật giáo, có 2 loại trí. Trí, do học qua thầy, bạn, sách vở là trí hữu sư. Trí này phần lớn từ bên phía ngoài vào, nó không phải là của tớ. Trí do tâm an mà có mới là trí vô sư, nghĩa là không cần đến học tập và truyền bá tri thức. Trí này tiềm ẩn trong mọi người, khi mây mù phiền não tan đi thì nó hiện ra. Nói theo ngôn từ nhà Phật, thì người tu hành phải lấy thiền định để nhiếp trì (nhiếp tâm, trì giới) mọi căn, triệu tập tư duy, bỏ hết tạp niệm lập tức trí tuệ bát nhã xuất hiện. Song, để sở hữu trí (trí vô sư) người học nên phải thiền định, và thiền định lại do công phu trì giới. Do đó, Giới, Định, Tuệ có quan hệ mật thiết với nhau, làm cho quy trình giác ngộ không bỏ qua bất kể một bước nào, trong số đó thiền đóng vai trò quyết định hành động.

1. Giới (Sila): Phiên âm theo tiếng Hán là Thi La, nghĩa là ngăn cản, phòng ngừa sự sai trái của thân và tâm. Thi La còn tức là Thanh hương, vì nó có kĩ năng ngăn ngừa nên gọi là giới. Ý nghĩa của giới là tích cực làm điều thiện, bỏ điều ác để tránh mọi lỗi lầm của thân, khẩu, ý. Giới còn gọi là Ba La Đề Mộc Xoa (Pra- timoksa), hay biệt giải thoát, gồm những điều giới được ghi trong kinh giới của Tỳ Khiêu và Tỳ Khiêu Ni. Biệt giải thoát là giữ kiêng từng điều một thì sẽ tiến hành giải thoát từng lỗi một. Ngũ giới là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không uống rượu và không vọng ngữ (vọng ngữ là cái tâm không trong sáng, luôn luôn muốn nói dối, che giấu thực sự, nói sai thực sự và sinh khẩu nghiệp). Thập thiện gồm có ba điều thiện thuộc về thân (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm), bốn điều thiện thuộc về khẩu (không nói dối, không nói hai chiều, không ác khẩu, không nói thêu dệt) và ba điều thiện thuộc về ý (không tham, không si, không sân). Thực chất của giới nhằm mục tiêu hướng dẫn, giúp sức con người vươn tới đạo đức hùng vĩ.

Đối với đạo Phật thì giới là quá trình thứ nhất, tất yếu với mục tiêu dìu dắt người tu hành từng bước đến với đạo. Không thể có sự triệu tập trí tuệ cao độ nếu thân tâm không trong sáng. Một khi trong đầu óc, trong trái tim còn tràn trề những khát vọng, ham muốn thì tâm tính còn bị dục vọng sai khiến. Khi tâm giao động không yên thì khó trọn vẹn có thể có một nhận định, một tâm lý đúng đắn , phản ánh khách quan sự vật, hiện tượng kỳ lạ. Tập trung tư duy cao độ vào một trong những yếu tố gì đó chỉ trọn vẹn có thể đã có được khi con người đã gạt ra ngoài toàn bộ những tâm lý vọng động. Để giữ cho tâm tính yên lặng, tỉnh táo thì giới là Đk không thể thiếu.

Trong đạo Phật, giới còn là một phương tiện đi lại giúp con người vượt qua sông mê bể khổ luân hồi tới chốn an nhàn giải thoát. Khi chưa giác ngộ thì như vậy, khi ngộ rồi nếu chấp vào giới thì giới lại trọn vẹn có thể trở thành dây trói buộc thêm, điều này cũng như người qua sông còn vác thuyền lên vai đi tiếp.

Ngoài Giới, Định, Tuệ, Trần Thái Tông còn đưa ra phương pháp nhận thức khác ví như trực giác. Sở dĩ Phật giáo nói chung, Thiền tông nói riêng tôn vinh trực giác là vì quan điểm về bản thể. Theo Phật giáo thì bản thể là tự nhiên, bất sinh, bất diệt, không thêm, không bớt… và đứng trước nó mọi ngôn từ đều bất lực. Muốn trực nhận bản thể thì không tồn tại con phố nào khác ngoài con phố Giới, Định, Tuệ.

Kế thừa phương pháp trực nhận bản thể của Thiền tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ Trần Tung (1230 -1291) nhận định rằng, người học đạo phải hiểu ra ngoài lời nói, để nhận thức cái “tự bản chi tâm”, “tự bản chi tính”, là cái “bất sinh”, “bất diệt”, lời nói không nói cái này được, bất kể lúc nào, trong bất kể ý niệm nào (đang tiếp sau đó nhau một cách nhanh gọn) nó cũng tự nhiên, nhi nhiên mà hiện ra, toàn bộ mọi hiện tượng kỳ lạ đều thông. “Một” là chân, “toàn bộ” cũng đều là chân, muôn vàn cảnh giới đều là “như như” (bằng nhau, không thêm không bớt) cái ý thức về tính chất như như đó là chân thực. Vì thế, chừng nào chưa tìm thấy gốc của giác ngộ thì người tu hành còn chìm đắm ở sông mê bể khổ. Ông nói: “Nếu cứ buông trôi trong mọi thú vui mà không tìm ra điểm khởi đầu, thì duyên lành vô hạn chỉ đến thế mà thôi”.

(Phùng trường diệc bất mô lai tị,
Vô hạn lương duyên chỉ má hưu) (11).

Đối với Tuệ Trung, để trực nhận bản thể, chân tâm, người học phải trở về với chính mình. Nhận ra thể “không” của đạo tức giác ngộ. Tuy nhiên, quy trình này sẽ không phải do học, do truyền bá tri thức, nó đã có được là nhờ trì giới. Như vậy, triết học Tuệ Trung thừa nhận Giới như một quá trình của quy trình trực nhận bản thể.

Có thể nói, Phật giáo nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng đều nhận định rằng, để trực nhận được bản thể chân tâm của tớ thì chỉ có một con phố duy nhất là thực hành thực tế Tam học. Tuy nhiên, trong quy trình giác ngộ mỗi thiền sư có cách thể hiện riêng. Chẳng hạn, Huệ Năng (Tổ thứ 6 Thiền tông Trung Hoa) chủ trương thiền: “Vô chấp, vô trụ, vô tướng” (Lập vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm bản) (107, 173). Mặc dù, chủ trương vô chấp, vô trụ, vô tướng trong thiền, nhưng quy trình giác ngộ Huệ Năng vẫn tu theo Giới, Định, Tuệ. Ngài thừa nhận, người tu thiền đạt đến giác ngộ phải tụng kinh Kim cương. Trần Thái Tông nhận định rằng, để kiến tính thành Phật, ngoài trì giới, sám hối, người tu hành phải coi trọng cả niệm Phật, toạ thiền, tuệ giáo. Trong Khoá hư lục, Ngài viết: “Cho nên phải nhờ cả hai, cả Phật cả ta. Tính căn phân biệt, ngu trí rất khác nhau, nếu trỏ một cửa thì khó giác ngộ mà vào, cho nên vì thế đức Phật ta mở rộng trí lớn mà nguyện Open phương tiện đi lại, tuỳ lối chỉ về, theo bệnh cho thuốc… ôi! hiệu suất cao của lễ sám hối lớn lắm, phải vậy “không!”(12).

Nhận thức trong Phật giáo là để hoà tâm mình vào tâm vạn pháp (giác ngộ giải thoát) chứ không phải đi đến nhận thức toàn thế giới và tôn tạo toàn thế giới khách quan. Phương pháp nhận thức ấy đã đạt được mục tích của đạo: giải thoát những đau khổ tinh thần nơi trần thế cho con người. Mỗi quá trình trong Tam học có vai trò riêng, không riêng gì có có mức giá trị trong nhận thức, mà còn tồn tại giá trị nhân văn. Nếu Giới có tác dụng hướng dẫn, giúp sức con người vươn tới đạo đức hùng vĩ, thì Thiền “là một thái độ sống, một phong thái sống của người đã tiến hành được sự huyền đồng giữa tiểu ngã và đại ngã” . Thiền là một sự tỉnh thức của con người trước những ảo mộng của trần gian. Thiền cũng là phương pháp khai thác, giải phóng một kĩ năng tiềm ẩn trong tâm thức của con người. Cũng trọn vẹn có thể nói rằng, Thiền là triết lý hay đạo đưa con người đến chỗ triệt ngộ và in sâu vào trong tâm thức… và khi đã giác ngộ thì con người sẽ sống ung dung tự tại.

Tài liệu tìm hiểu thêm

1) Nguyễn Tài Thư, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb KHXH, Tp Hà Nội Thủ Đô 1998, tr. 270.
2)Tuệ Trung Thượng Sỹ với Thiền tông Việt Nam,Trung tâm nghiên cứu và phân tích Hán- Nôm, 1993, tr. 49.
3) Nguyễn Đăng Thục, Thiền học Việt Nam, Nxb Thuận Hoá 1997, tr.13.
4) Thích Thanh Từ, Thiền tông Việt Nam thời gian cuối thế kỷ XX, Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh, l992, tr.34.
5). 9) Nguyễn Hùng Hậu, Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm. Nxb KHXH, Tp Hà Nội Thủ Đô 1997, Tr. 79, 64.
6)Thiền uyển tập anh, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phân viện nghiên cứu và phân tích Phật học, Nxb văn học, Tp Hà Nội Thủ Đô 1996, Tr. 209- 210.
7, 8) Đào Phương Bình, Phạm Tú Châu, Nguyễn Huệ Chi,.. Thơ văn Lý Trần, tập l, Nxb KHXH, Tp Hà Nội Thủ Đô 1977, tr.. 293, 265.
10, 12). Trần Thái Tông, Khoá hư lục, Đào Duy Anh phiên dịch và chú giải, Nxb KHXH, Tp Hà Nội Thủ Đô l974, tr.102, 108.
11) Nguyễn Huệ Chi, Thơ văn Lý – Trần, tập 2, Quyển thượng. Nxb KHXH, Tp Hà Nội Thủ Đô 1988, tr. 264.

Nguồn:Tạp chí Phật học (2009)

LinkedInPinterestCập nhật lúc:08:45 CH @ 09/08/2019

Phật giáođạo Phậttriết họcnhận thứcnhận thức luận

Tải thêm tài liệu tương quan đến nội dung bài viết Những quan điểm về giá trị của triết học Phật giáo

Học Tốt
Học
Cryto
Giá

Reply
3
0
Chia sẻ

đoạn Clip hướng dẫn Share Link Tải Những quan điểm về giá trị của triết học Phật giáo ?

– Một số từ khóa tìm kiếm nhiều : ” Review Những quan điểm về giá trị của triết học Phật giáo tiên tiến và phát triển nhất , Share Link Download Những quan điểm về giá trị của triết học Phật giáo “.

Hỏi đáp vướng mắc về Những quan điểm về giá trị của triết học Phật giáo

You trọn vẹn có thể để lại Comment nếu gặp yếu tố chưa hiểu nha.
#Những #quan #điểm #về #giá #trị #của #triết #học #Phật #giáo Những quan điểm về giá trị của triết học Phật giáo