Đua xe F1 là gì? Những điều cần biết để theo dõi trọn vẹn Giải đua xe Công thức 1 2022




Đua xe F1 là một trong những trong những giải đấu lôi cuốn, được nhiều người mong đợi. Tuy nhiên ko phải ai ai cũng biết được đua xe F1 là gì? Trong bài bác luận này chúng tôi sẽ giúp các độc giả trả lời câu hỏi đó, đồng thời giúp các độc giả cập nhật những điều cần biết để theo dõi trọn vẹn giải đấu này. Mời các độc giả cùng theo dõi nhé.


Đua xe F1 là gì?
Đua xe F1 (tiếng Anh là Formula One) còn được gọi là Giải đua xe Công thức 1, Giải đua xe Thể thức 1. Đây chính là một trong những bộ môn thể thao tốc độ chuyên về xe khá bánh hở cao nhất theo định nghĩa của Liên đoàn Ô tô Quốc tế (Fédération Internationale de l’Automobile hoặc FIA), cơ quan lại cai quản lý thế giới về thể thao mô tô.
Từ “công thức” trong tên gọi là để chỉ một loạt các quy định mà tất cả người và xe tham gia đều phải tuân thủ.
Mùa giải vô địch thế giới F1 bao héc tàm tất cả một chuỗi các cuộc đua, được biết đến với tên Grands Prix, thường được tổ chức tại những đường đua được xây dựng riêng, cũng có một số ít ngôi trường hợp là trên những con đường trong thành phố, cuộc đua có tiếng nhất trong số đó là Monaco Grand Prix ở Monte Carlo. Kết quả của mỗi cuộc đua được tổng hợp lại để xác định hai Nhà vô địch Thế giới mỗi năm, một dành cho tay đua và một dành cho đội đua.

Tìm hiểu lịch sử của Giải đua xe Công thức 1

Nguồn gốc của Giải đua xe F1
Loạt cuộc đua xe Công thức 1 có cỗi mối cung cấp từ Giải Grand Prix Đua Mô tô vào trong năm 1920 và 1930. “Công thức” là một trong những tập các quy định mà tất cả những người dân và xe tham gia phải tuân thủ.
Giải đua xe Công thức 1 chỉ được chấp thuận sau Chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1946, với cuộc đua ko tính vô địch đầu tiên được tổ chức vào cùng năm đó.
Một số tổ chức đua xe Grand Prix đã đặt ra các luật lệ dành cho Giải vô địch Thế giới từ trước chiến tranh, tuy nhiên do chiến tranh nên bị trì hoãn. Năm 1947, Ccộc đua vô địch thế giới đầu tiên được tổ chức tại Silverstone, Liên hiệp Anh vào năm 1950. Một giải vô địch dành cho đội đua diễn ra tiếp đó vào năm 1958.
Sau đó, các giải vô địch đất nước được tổ chức tại Nam Phi và Liên hiệp Anh vào thập niên 1960 và 1970. Các cuộc đua Công thức 1 ko tính vô địch được tổ chức trong nhiều năm tuy nhiên do vì chi phí cho cuộc đua ngày càng cao, cuộc đua ko tính vô địch cuối cùng diễn ra vào năm 1983.


Sự trở lại của các cuộc đua
Năm 1950, Giải đua xe F1 chính thức trở lại, đánh dấu bởi chiến thắng của ngôi nhà vô địch thế giới đầu tiên của giải đấu này là tay đua người Ý – Giuseppe Farina trong chiếc Alfa Romeo. Ông đã đánh bại đồng đội người Argentina Juan Manuel Fangio với tỉ số sát nút. Tuy nhiên, Fangio đã “phục thù” và giành  lại chức vô địch các năm 1951, 1954, 1955, 1956 & 1957 (kỷ lục 5 lần giành chức vô địch thế giới của ông đã tồn tại suốt 45 năm cho đến Khi tay đua người Đức Michael Schumacher giành được chức vô địch thứ 6 vào năm 2003). Mạch chiến thắng của ông bị ngắt trong 2 năm 1952 và 1953 do chấn thương, và người đoạt giải trong các năm đó là Alberto Ascari của đội đua Ferrari.
Đây cũng chính là quãng thời gian thống trị của những đội đua do những ngôi nhà sản xuất xe khá phổ thông điều hành – Alfa Romeo, Ferrari, Mercedes Benz và Maserati – tất cả các đội đua này đều đã thi đấu từ trước chiến tranh.
Ở mùa giải đầu tiên, các đội đua sử dụng những cái xe trước thế chiến như 158 của Alfa. Chúng đều có động cơ phía trước, bánh xe có ta-lông hẹp và động cơ hút thường 4,5 lít hoặc tăng nạp 1,5 lít.
Sau đó, tại các Giải vô địch thế giới năm 1952 và 1953 áp dụng quy định của Công thức 2, với những cái xe nhỏ rộng, yếu rộng, do lo ngại về số lượng xe khá Công thức 1 ko hề nhiều trên thị ngôi trường.
Khi quy định Công thức 1 mới, với động cơ giới hạn còn 2,5 lít, được tái áp dụng vào năm 1954, Mercedes-Benz đã cho ra mắt chiếc W196 cải tiến, trong đó có một số sáng con kiến đáng chú ý như van điều khiển vòng (desmodromic valve) và phun nhiên liệu cũng như thân xe đóng kín có dáng vẻ thuôn rộng. Mercedes đã giành chức vô địch tay đua trong hai năm, trước Khi rút ra ngoài tất cả các giải đua mô tô sau Cuộc xịn hoảng rủi ro cục bộ Le Mans 1955.

Những cải tiến vĩ đại trong lịch sử đua xe F1
Sự cải tiến lớn đầu tiên phải kể tới đó chính là cải tiến công nghệ. Sự tái sản xuất các loại khá có động cơ tầm trung của Cooper (theo sau chiếc Auto Union tiên phong của Ferdinand Porsche vào trong năm 1930), lấy ý tưởng từ bộ sưu tập thiết kế Công thức 3 thành công của công ty, diễn ra vào trong năm 1950. Tay đua người Úc Jack Brabham, ngôi nhà vô địch thế giới vào năm 1959, 1960 và 1966, đã chóng vánh chứng tỏ được tính ưu việt của mẫu thiết kế mới này. Đến năm 1961, tất cả những tay đua thi đấu đã chuyển sang các loại xe khá động cơ tầm trung.
Nhà vô địch Thế giới người Anh đầu tiên là Mike Hawthorn, người lái một chiếc Ferrari giành được danh hiệu vào năm 1958. Tuy nhiên, Khi Colin Chapman gia nhập làng với vai trò ngôi nhà thiết kế khuông gầm và sau đó là kẻ thành lập Team Lotus, đội đua xanh của Anh chính thức phát động thống trị các đường đua trong thập niên tiếp theo. Với Jim Clark, Jackie Stewart, John Surtees, Jack Brabham, Graham Hill, và Denny Hulme, các tay đua của đội Anh và Khối thịnh vượng chung đã giành được mười hai chức vô địch thế giới từ năm 1962 đến 1973.
Vào năm 1962, Lotus giới thiệu chiếc xe khá có miếng gầm khuông bởi nhôm gắn sát với thân thay cho loại thiết kế dạng khuông truyền thống. Cải tiến này đã được chứng minh là bước đột phá vĩ đại nhất về công nghệ Tính từ lúc lúc những cái xe khá động cơ tầm trung ra mắt. Vào năm 1968, Lotus sơn lại tất cả chiếc xe của đội sang màu gan của hãng sản xuất Imperial Tobacco, từ đó giới thiệu mẫu mã tài trợ vào môn thể thao.
Lực ép xuống của động lực học tập dần dần trở nên cần thiết trong mẫu thiết kế xe Tính từ lúc lúc có sự xuất hiện nay của cánh máy cất cánh vào cuối thập niên 1960.
Cuối thập niên 1970, Lotus giới thiệu khí động lực học tập về cảm giác mặt đất cung cấp lực ép xuống đẩy đà và làm tăng đáng kể tốc độ bẻ cua (mặc dù định nghĩa này trước đây đã được dùng trong Chaparral 2J của Jim Hall vào năm 1970). Các lực động lực học tập tác động lên xe lớn quá lớn (lên đến 5 lần trọng lượng xe) đến nỗi cần những lò xo cực cứng để duy trì một tầm chừng sáng gầm xe cố định, làm cho nhíp xe gần như rắn, và bất cứ một độ nhún nào giữa xe và người với độ cập kênh của mặt đường phụ thuộc trọn vẹn vào bánh xe.

Tìm hiểu về các thuật ngữ của Giải đua xe Công thức 1
Hiểu được các thuật ngữ sẽ giúp các độc giả cũng có thể theo dõi các trận đấu một cách trọn vẹn nhất. Dưới đây là những thuật ngữ cơ các độc giả dạng thường gặp gỡ trong Giải đua xe F1:
Ballast: Xe càng nhẹ nhàng thì sẽ có lợi thế rất là nhiều về tốc độ phóng, đây chính là nguyên lý cơ các độc giả dạng trong các Giải đua xe F1, do đó để đảm bảo công bởi cho giải đấu, những cái xe cùng người cầm lái mất đi trọng lượng tối thiểu theo quy định sẽ phải gắn thêm “đá” ballast vào xe. Theo quy định mới nhất của Giải đua xe F1 từ năm 2019, tổng trọng lượng của cả người và xe đã tăng lên 740 kilogam, trong đó trọng lượng của các tay lái và ghế ngồi phải đạt tối thiểu 80 kilogam. Sự thay đổi về yêu cầu cân nặng này góp phần giúp cho nhiều tay lái “dễ thở” rộng đôi chút vì trước đây bọn họ phải lên plan giảm cân trước mỗi chặng đua, để đảm bảo tổng trọng lượng của người và xe ko vượt quá quy định.
Đua thử, phân hạng, đua chính thức: Thông thường một chặng đua F1 thường diễn ra trong 3 ngày. Ngày 1 là ngày luyện tập ko buộc phải (Practice) bao héc tàm tất cả hai buổi sáng và chiều, mỗi buổi kéo dãn 1 tiếng 30 phút. Ngày 2 là ngày đua phân hạng (Qualifying) kéo dãn tầm chừng 1 tiếng đồng hồ nước và được chia thành 3 phần: Q1, Q2, Q3, quyết định vị trí xuất phát của các tay lái trong ngày đua chính thức. Ngày 3 chính là ngày đua chính thức để xác định “ngôi vương”.
Luật 107%: Trong lượt đua đầu tiên (Q1) của Ngày đua phân hạng (qualifying), bất cứ tay lái nào ko trả mỹ xong vòng đua trong quãng thời gian tối đa 107% so với kỷ lục trả mỹ xong của tay lái sớm chóng nhất có thể lượt đua 1 (Q1) sẽ ko được phép tham gia cuộc đua chính thức. Tuy nhiên, trong một số ngôi trường hợp đặc biệt, các trọng tài đua (steward) vẫn có thể cho phép điều này.
Flag: Đây là một trong những khối mạng lưới server cờ hiệu (Flag) được sử dụng trong Giải đua Công thức 1, mỗi màu và số lượng cờ hiệu sẽ truyền tải một thông điệp khác nhau. 
Marshal: Đây là thuật ngữ để chỉ các tình nguyện viên/chuyên viên điều hành – những người dân sẽ phụ trách nhiều vai trò trong cả chặng đua, chẳng hạn phụ trách xe đua, phụ trách điểm khán đài để đảm bảo người theo dõi ko khiến hiểm nguy cho các độc giả dạng thân mình và các tay đua, giúp đưa xe và tay lái gặp gỡ sự cố, tai nạn ra ngoài đường đi đua hoặc vẫy cờ hiệu để thông báo tình trạng với các tay lái.
Pit-stop: Hiểu đơn giản thuật ngữ này chính là vấn đề dừng chuyên môn, điểm các tay lái chóng vánh đưa những cái “quái xế triệu đô” vào thay lốp rồi ngay lập tức trở lại đường đua. 


Tìm hiểu mức tiền thưởng của Giải đua xe Công thức 1
Hiện nay, các đội đua trong Giải đua xe F1 sẽ được ký hợp đồng ít nhất 3 năm liên tiếp với tổng trị giá tầm chừng 36 triệu USD. Hình như, nếu giành chức vô địch, đội đua sẽ có thêm khoản tiền thưởng.
Ví dụ như đội Mercedes AMG Petronas đã cảm bắt gặp 61 triệu USD tiền thắng giải Khi vô địch năm 2016, cộng thêm tầm chừng 100 triệu USD tiền thưởng từ công ty tài trợ cùng nhiều loại tiền thưởng khác. Trong lúc đó, đội Ferrari được 41 triệu USD Khi về thứ 3. Với những đội đua lâu đời như Ferrari, bọn họ còn nhận thêm tiền thưởng do trở thành đội đua lâu đời nhất của giải với tổng trị giá tầm chừng 68 triệu USD.
Thậm chí, có một vài đội đua còn vẫn có thể cảm bắt gặp tiền thưởng vì những thành tựu ko mấy liên quan lại. Chẳng hạn như đội Red Bull đã cảm bắt gặp 36 triệu USD tiền thưởng vì đã ký hợp đồng Concord liên quan lại đến việc phân chia tiền lăng xê giải đua F1.
Với cá nhân, mỗi tay đua xe cũng có mức lương ko hề nhỏ ở thời điểm lúc này. Một vài ví dụ cụ thể như Lewis Hamilton (Đội Mercedes) và Sebastian Vettel (Đội Ferrari) hiện nay có mức thu nhập tương đương  50 và 60 triệu USD/năm và là 2 tay đua có mức lương cao nhất, tiếp theo là Kimi Raikkonen (Đội Ferrari) với 40 triệu USD/năm…
Có thể thấy tiền thưởng của Giải đua xe Công thức 1 là vô cùng lôi cuốn.

Tìm hiểu các quy định chuyên môn trong từng Giải đua xe F1
Năm
Số liệu
1950-52
Dung tích động cơ 4,5 lít cho máy ko nén và 1,5 lít cho máy nén, rút ngắn đường đua từ 500km xuống còn 300km hoặc ít nhất là 3 tiếng đồng hồ nước.
1952-53

Đua theo các quy định dành cho Công thức 2.

1954-58

Dung tích động cơ được quy định là 750cm³ cho máy nén và 2,5 lít cho loại ko hề. Đường đua được quy định là 500km hoặc 3 tiếng đồng hồ nước.

1958-60

Xăng máy cất cánh đúng chất bị cấm. Chỉ số octan được quy định từ 100 đến 139. Thời gian lái được giảm xuống còn 2 tiếng hoặc ít nhất là 300 km và nhiều nhất là 500km.

1961

Quy định dung tích động cơ là một trong những trong,5 lít, loại có máy nén bị cấm. Cấm ko nhẹ nhàng rộng trọng lượng tối thiểu là 450kg, giới hạn chỉ số octan còn 100, các bình xăng phải đáp ứng được các quy định về an ninh như của máy cất cánh.

1966

Cho phép động cơ hút 3 lít và động cơ turbo 1,5 lít, trọng lượng tối thiểu là 500kg.

1967

Bắt buộc phải có dây an ninh và group máu của người lái xe phải có trên bộ áo liền quần.

1968

Mũ bảo đảm đầu tiên của Bell.

1969

Cấm các bộ phận bổ sung khí động lực, bộ truyền động 4 bánh của xe Lotus.

1970

Bắt buộc phải có thiết bị chữa cháy trên xe.

1971

Bánh xe ko rãnh của Goodyear, động cơ turbo của Lotus.

1976

Wing-car-concept của Lotus, xe 6 bánh của Tyrrell Racing.

1977

Renault với động cơ turbo 1,5 lít, Michelin với lốp có bố tỏa tròn, đưa vào sử dụng khối mạng lưới server đo từ xa (telemetry).

1981

Phòng lái bởi sợi cacbon của McLaren và Lotus, khối mạng lưới server giảm xóc điều khiển sử dụng máy tính của Lotus.

1984

Cấm dừng đổ xăng, giới hạn xăng là 220 lít.

1986

Giới hạn xăng cho động cơ turbo là 195 lít, Benetton-BMW là chiếc xe đua mạnh nhất với 1.359 mã lực.

1987

Cho phép động cơ hút với dung tích 3,5 lít, giới hạn chiều ngang lốp xe là 30,5cm (12 inch) ở bánh trước và 57,72cm (18 inch) ở bánh sau.

1988

Giới hạn xăng còn 150 lít và áp suất là 2,5 bar cho loại động cơ Turbo.

1989

Cấm động cơ turbo, Renault sử dụng van khí nén lần đầu tiên.

1992

Cấm “xăng design” chỉ cho phép xăng gần bình thường (có chỉ số octan nhiều nhất là 102 và tối đa là 3,7% oxy.

1993

Giới hạn bề ngang lốp xe còn 29cm ở phía trước và 29cm cho phía sau.

1994

Cấm các thiết bị bổ sung điện tử (ABS, thiết bị giảm xóc chủ động), cho phép ngừng để đổ xăng.

1995

Giới hạn dung tích xuống 3 lít.

1998

Cấm lốp ko rãnh, đưa vào sử dụng loại lốp có rãnh (3 rãnh cho lốp trước, 4 rãnh cho lốp bánh sau).

1999

Thống nhất 4 rãnh cho lốp trước và sau.

2004

Không được thay động cơ suốt một cuối tuần đua.

2005

Không cho phép thay lốp, động cơ phải phát động và sinh hoạt giải trí được trong 2 cuối tuần đua.

2006

Động cơ 8 lít V8 thay vì V10 3 lít, cũng phải chạy được 2 cuối tuần đua (ko được phép thay thế) nhằm mục đích giảm động cơ lúc này vẫn đang vào khoản 900 mã lực xuống còn 700 mã lực.

2007

Tất cả các đội đua chỉ sử dụng lốp của một hãng sản xuất – Bridgestone; Quãng đường chạy thử tối đa của một đội là 30.000km một năm; Thời gian lái tập trước cuộc đua phân hạng là 90 phút (trước là 60 phút).

2011

Double diffuser và F-Duct sẽ bị cấm dùng. Bridgestone ra đi nhường chỗ cho Pirelli. Cánh gió sau điều chỉnh được. KERS là thứ được phép trang bị tuy nhiên ko buộc phải. Tất cả các xe tham gia Q1 nếu có thời gian vòng sớm chóng nhất có thể của mình “lớn rộng 107% so với vòng sớm chóng nhất có thể của Q1 xác lập” đều bị loại ngoài cuộc đua vào ngày đua chính thức. Cho phép “team order”. Tăng trọng lượng tối thiểu của chiếc xe lên mức 640kg.

2014

Động cơ Turbo V6 thế chỗ 8 lít V8


Tìm hiểu khối mạng lưới server cờ hiệu và mẫu mã phạt của Giải đua xe F1

Hệ thống cờ hiệu và ý nghĩa
Cờ ca rô trắng đen: Cuộc đua đã kết thúc những Khi có xe cán đích.
Cờ đỏ: Cuộc đua bị tạm dừng. Các xe phải chạy chậm về vị trí xuất phát. Nếu phất cờ đỏ lần thứ hai thì cuộc đua kết thúc.
Cờ xanh nước biển để nguyên: Báo hiệu có một xe thật sớm chóng đang đến gần từ phía sau.
Cờ xanh nước biển được vẫy: Phải cho chiếc xe đó qua mặt.
Cờ vàng: Cẩn thận có hiểm nguy! Các xe phải chạy chậm và cấm qua mặt. Xe an ninh xuất hiện nay.
Cờ xanh lá cây: Hết hiểm nguy, chấm dứt việc cấm qua mặt. Xe an ninh trở về pit.
Cờ trắng: Cẩn thận, trên đường đua có xe chạy chậm.
Cờ vạch thẳng đứng đỏ vàng: Đường trơn trợt (có vết dầu, nước mưa…).
Cờ đen với vòng tròn cam: Cảnh báo một xe là xe đang có trục trặc chuyên môn phải vào pit ngay tức tự khắc.
Cờ tam trắng và đen: Xe bị cảnh cáo vì có thái độ ko hề tinh thần thể thao.
Cờ đen: Xe bị loại ngoài cuộc đua và phải trở về pit ngay tức tự khắc.

 Hình phạt
Xe phải chạy một lần qua pit mà chẳng cần thiết phải ngừng.
Phạt Stop-and-Go: xe phải chạy qua pit, ngừng 10 giây trước Khi được tiếp tục, trong Khi ngừng xe ko được quyền bảo chăm sóc.
Qua 3 lần cảnh cáo của hội đồng đua, người lái sẽ bị cấm ko cho tham dự một cuộc đua.
Vị trí tại cuộc đua tới sẽ bị tuột xuống 10 vị trí.
Cờ đen: người lái tự động bị loại ngoài cuộc đua.
Nếu hình phạt qua 3 vòng vẫn chưa được thực hiện nay thì xe sẽ bị loại. Nếu hình phạt được đưa ra trong 5 vòng cuối cùng, hoặc ngay sau Khi chấm dứt cuộc đua, thì thời gian lái sẽ bị cộng thêm 25 giây, chẳng cần thiết phải chạy qua pit nữa.
đa phần Khi một người lái, hoặc 1 đội, có thể bị cấm tham dự vài cuộc đua. Số lần nhiều hoặc ít tùy thuộc vào sự vi phạm quy luật của người lái, hoặc đội, đó.
Hi vọng rằng qua bài bác luận này, các độc giả đã biết được dua xe F1 là gì và những điều cần biết để theo dõi trọn vẹn Giải đua xe Công thức 1 nhất. Cảm ơn các độc giả đã theo dõi bài bác luận.
Đừng quên thường xuyên truy cập online Tác giả.vn để cập nhật thêm nhiều thông tin hữu ích các độc giả nhé.
 
Tham khảo thêm:

Scr Đua xe F1 là gì? Những điều cần biết để theo dõi trọn vẹn Giải đua xe Công thức 1 2021-08-23 17:24:15

#Đua #là #gì #Những #điều #cần #biết #để #theo #dõi #trọn #vẹn #Giải #đua #Công #thức